Gạo Việt Nam – sản lượng cao, giá trị thấp – hiệu quả kinh tế chưa cao - P2

Thảo luận trong 'Các hoạt động đã thực hiện' bắt đầu bởi Vuvinh, 30/11/19 lúc 22:40.

  1. Vuvinh

    Vuvinh Member

    Trong phần trước chúng ta đã nhắc đến các nguyên nhân dẫn đến hiệu quả kinh tế từ việc canh tác, chế biến và xuất khẩu gạo ở Việt Nam đem lại giá trị kinh tế chưa cao. Trong phần này chúng ta tiếp tục xây dựng một số các giải pháp để góp phần giải quyết bài toán kinh tế cho gạo Việt Nam.
    Muốn thành công, làm “cánh đồng lớn liên kết”
    Gạo Việt Nam có rất nhiều loại gạo là đặc sản có tiếng theo từng vùng miền. Một số cái tên nổi bật có thể nhắc đến như gạo Hải Hậu (Nam Định), gạo nếp cái hoa vàng của miền Bắc Việt Nam, gạo Đồng Tháp Mười, gạo Thái Bình, gạo tám Điện Biên,… Đây là những loại gạo ngon, có tiếng từ lâu đời, có thể đáp ứng tốt nhất cho yêu cầu của những thị trường khó tính. Nhưng làm thế nào để có thể đưa đặc sản gạo của từng vùng này vươn tầm thế giới?
    Cần làm cánh đồng lớn liên kết để đưa nông sản Việt ra chợ thế giới
    Để gạo Việt Nam không chỉ phụ thuộc vào những thị trường phân khúc giá thấp, chúng ta cần nâng cao chất lượng gạo nói chung. Để làm được điều này thì cần những mô hình canh tác tập trung hơn, cần xây dựng những cánh đồng lớn, canh tác đồng bộ, kỹ thuật cao. Đồng thời cần có sự liên kết chặt chẽ giữa người nông dân và doanh nghiệp. Nếu như chúng ta thực hiện tốt điều này thì chắc chắn giá trị của gạo Việt Nam sẽ được cải thiện rất nhiều và có thể xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Nhật Bản, EU, Hàn Quốc…
    Như năm 2012, gạo lức tím than và nếp lá xanh An Giang được công ty xây dựng thành công tại Trung quốc với giá 1.500 USD/tấn gạo tím và 700 USD/tấn nếp. Hay từ 2017 đến nay, doanh nghiệp của ông được Hàn Quốc thẩm định, xuống tận các cánh đồng truy xuất nguồn gốc và công nhận đủ điều kiện tham gia đấu thầu xuất khẩu gạo vào Hàn Quốc, mà thị trường này giá nhập khẩu gạo JAPONICA luôn trên 700 USD/tấn.
    Từ năm 2018 đến nay, loại gạo thơm ST24 của doanh nghiệp luôn không đủ hàng để cung cấp cho thị trường gạo thơm thế giới và người tiêu dùng trong nước, ông Bình cho hay.
    Dù chuỗi liên kết sản xuất lúa gạo đang cho thấy hiệu quả cao, song ông Bình thừa nhận rất khó triển khai nhiều và nhân rộng mô hình bởi doanh nghiệp thiếu vốn.
    Giải pháp duy nhất là vận động nông dân tham gia vào các hợp tác xã kiểu mới hay bắt tay liên kết cùng với các doanh nghiệp nông nghiệp làm hàng hoá ở quy mô lớn, theo chuỗi.
    Thực tế hiện nay, có nhiều mô hình hợp tác xã đem lại thành công, nông dân tăng thu nhập khi liên kết với doanh nghiệp trong sản xuất và bao tiêu sản phẩm. Nhờ đó, sản phẩm đã xuất khẩu được sang những thị trường khó tính nhất thế giới.
    Như ở Lục Ngạn (Bắc Giang), có những mô hình trồng vải thiều liên kết với doanh nghiệp để đưa quả vải đặc sản của địa phương xuất khẩu được sang Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc,... với giá cao, từ đó nâng cao thu nhập cho người dân.
    Tương tự, chuỗi sản xuất lúa gạo hữu ở Quảng Trị cũng đang đem lại hiệu quả cao cho người nông dân trồng lúa. Ở đó, tham gia liên kết, người nông dân không còn lo mất mùa, rớt giá, thu nhập của họ luôn ổn định, đảm bảo có lãi.
    Việt Nam đã đưa sản phẩm lúa gạo năng suất cao, chất lượng cao là sản phẩm quốc gia trong chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020. Hi vọng rằng với sự hỗ trợ từ Chính phủ trong khuôn khổ chương trình này thì gạo Việt Nam trong thời gian sắp tới sẽ cải thiện được vị thế của mình cả về số lượng và chất lượng gạo.

Chia sẻ trang này